Nguồn gốc và xuất xứ tên gọi
Nguyên thủy, chợ Bến Thành đã có từ trước khi người Pháp xâm chiếm Gia Định. Ban đầu, vị trí của chợ nằm bên bờ sông Bến Nghé, cạnh một bến sông gần thành Gia Định (bấy giờ là thành Quy, còn gọi là thành Bát Quái). Bến này dùng để cho hành khách vãng lai và quân nhân vào thành, vì vậy mới có tên gọi là Bến Thành, và khu chợ cũng có tên gọi là chợ Bến Thành.

Chợ Cũ
Chợ Bến Thành đầu thế kỷ 20Chợ Bến Thành thời kỳ đầu được xây bằng gạch, sườn gỗ, lợp tranh, được mô tả như là "phố chợ nhà cửa trù mật ở dọc theo bến sông. Chỗ đầu bến này có lệ đến đầu mùa xuân gặp ngày tế mạ, có thao diễn thủy binh, nơi bến có đò ngang chở khách buôn ngoài biển lên. Đầu phố phía Bắc là ngòi Sa ngư, có gác cầu ván ngang qua, hai bên nách cầu có dãy phố ngói, tụ tập trăm thứ hàng hóa, dọc bến sông ghe buôn lớn nhỏ đến đậu nối liền"[1]. Tuy nhiên, sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (1833-1835), thành Quy bị triệt hạ, phố chợ Bến Thành cũng không còn sầm uất như trước.


Trước khi Pháp đánh chiếm Gia Định, khu vực xung quanh thành Gia Định (bấy giờ là thành Phụng) mới chỉ có 10 vạn dân và chợ Bến Thành là nơi đông đúc nhất. Cạnh khu chợ, dọc theo bờ sông Bến Nghé, các ghe thương thuyền thường đậu chen chúc nhau, tạo thành một thành phố nổi trên mặt nước. Tuy nhiên, khi ấy khu họp chợ trên bến mới chỉ là một dãy nhà trống lợp ngói. Tháng 2 năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định và hai ngày sau, các binh lính người Việt đã tổ chức hỏa công thiêu rụi cả thành phố, tất nhiên chợ Bến Thành cũng bị thiêu hủy. Sau khi đã vững chân trên mảnh đất Nam Kỳ, năm 1860, người Pháp đã cho cho xây cất lại chợ Bến Thành ở địa điểm cũ (thời Việt Nam Cộng hòa là địa điểm Tổng Ngân khố, nay là Trường đào tạo cán bộ ngân hàng trên đường Nguyễn Huệ). Ngôi chợ được xây cất bằng cột gạch, sườn gỗ, và lợp lá. Đến tháng 7 năm 1870, chợ bị cháy mất một gian, phải xây cất lại bằng cột gạch, sườn sắt, lợp bằng ngói, tất cả có năm gian: gian thực phẩm, gian hàng cá, gian hàng thịt, gian hàng ăn uống và gian hàng tạp hóa. Trong năm gian hàng này, chỉ có gian hàng thịt được lợp bằng tôn, nền lót đá xanh.

Chợ CharnerThời đó, khu chợ được xây dựng bên bờ phía nam một con kênh, được gọi là Kinh Lớn. Phía trước chợ, dọc bờ kênh là một con đường được người Pháp đặt tên là đường Charner, hay một tên gọi khác là đường Quảng Đông (Rue de Canton), bởi đa số người Hoa làm nghề buôn bán ở đây đều là người Quảng Đông. Phía đối diện bờ kênh là đường Rigault de Genouilly. Do vị trí nằm giao điểm của khu đô thị và hợp lưu của hai tuyến đường thủy là kênh Lớn và rạch Cầu Sấu (nay là đường Hàm Nghi), ghe thuyền có thể cập bến và đổ người lên chợ bất cứ ở phía bên này hay bên kia. Còn người bên đất liền muốn qua chợ thì có thể đi qua những chiếc cầu gỗ xinh xắn, do đó chợ Bến Thành luôn luôn nhộn nhịp.

Vào năm 1887, người Pháp cho lấp con kênh và sát nhập hai con đường lại làm một thành đại lộ Charner. Dân bản xứ gọi nôm là đường Kinh Lấp (nay là Đại lộ Nguyễn Huệ). Khu chợ càng trở nên đông đúc với các cửa hiệu phần nhiều là của người Hoa, người Ấn Độ và người Pháp. Tuy nhiên, khoảng giữa năm 1911, ngôi chợ trở nên cũ kỹ và lâm vào tình trạng có thể bị sụp đổ. Để tránh tai họa, người ta phải phá chợ, chỉ còn gian hàng thịt, vì mái tôn nhẹ, nên chưa bị phá. Đồng thời, người Pháp cũng lựa chọn một địa điểm để xây cất một khu chợ mới lớn hơn để phục vụ nhu cầu buôn bán sầm uất ngày càng phát triển. Địa điểm được lựa chọn nằm gần ga xe lửa Mỹ Tho (nay là Bến xe Sài Gòn), tức là địa điểm chợ Bến Thành ngày nay.

Chợ Mới
Cổng chínhKhu vực xây chợ, vốn là một cái ao sình lầy cũ, gọi là ao Bồ Rệt (Marais Boresse), được người Pháp cho lấp đi. Khuôn viên chợ quy hoạch bốn mặt bởi bốn con đường. Mặt tiền là Place Cuniac, tên đặt theo viên Xã Tây (Ủy viên Hội đồng) Cuniac, người đã đề ra công việc lấp ao. Người Việt thì quen gọi đó là Bùng binh Chợ Bến Thành cho dù tên chính thức đã từng đổi là "Công trường Cộng Hòa", "Công trường Diên Hồng", rồi "Quảng trường Quách Thị Trang". Mặt bắc chợ là Rue d'Espagne, phía đông là rue Viénot, và phía tây là rue Schroeder. Năm 1955 thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, bốn con đường này đổi tên thành đường Lê Thánh Tôn, đường Phan Bội Châu và đường Phan Châu Trinh.

Ngôi chợ mới do hãng thầu Brossard et Maupin[2] khởi công xây dựng từ năm 1912 đến cuối tháng 3 năm 1914 thì hoàn tất. Lễ ăn mừng chợ khánh thành được báo chí thời đó gọi là "Tân Vương Hội", do được diễn ra trong ba ngày 28, 29 và 30 tháng 3 năm 1914, với pháo bông, xe hoa và hơn 100.000 người tham dự, kể cả từ các tỉnh đổ về.

Khu chợ mới này vẫn mang tên gọi Bến Thành, ngoài ra người dân còn gọi là chợ Mới, để phân biệt chợ Cũ tại điểm cũ, vốn chỉ còn lại gian hàng thịt. Phần còn lại bị phá đi và được người Pháp xây dựng thành cơ quan Ngân khố. Hai con đường bên hông chợ mãi đến năm 1940 còn là bến xe đò miền Đông và miền Tây. Về sau, bến xe này mới được dời đi chỗ khác.

Chợ Bến Thành hoạt động liên tục trong 70 năm. Từ ngày 1 tháng 7 đến 15 tháng 8 năm 1985, chợ Bến Thành được cải tạo và sữa chữa lớn.




Vườn Quốc gia Côn Đảo bảo vệ môi trường thiên nhiên gắn với phát triển du lịch sinh thái bền vững
Được thành lập từ ngày 31/3/1993 trên cơ sở  chuyển hạng Khu Rừng cấm Côn Đảo, Vườn Quốc gia Côn Đảo (QGCĐ) thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có tổng diện tích 19.992 ha, gồm 14 hòn đảo lớn, nhỏ thuộc quần đảo Côn Sơn. Trong đó diện tích rừng và đất có rừng 5.991 ha, diện tích vùng bảo vệ đa dạng sinh học biển 14.000 ha; ngoài ra còn có vùng đệm biển 20.500 ha.    

   
Ông Lê Xuân Ái, Giám đốc Vườn QGCĐ cho biết: Cùng  với nhiệm vụ bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái rừng và biển; bảo tồn các loài sinh vật hoang dã đặc hữu, quý hiếm; các cảnh quan tự nhiên của rừng và biển; thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học, môi trường, Vườn QGCĐ cũng đang đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái với nhiều loại hình như: Du lịch nghỉ ngơi, tỉnh dưỡng; du lịch thể thao, khám phá (câu cá, leo núi, bơi lặn, tắm biển…); du lịch kết hợp nghiên cứu khoa học…ở 6 điểm và 11 tuyến du lịch. Khách có thể đi theo đoàn, có hướng dẫn viên giúp đỡ, hoặc có thể tự do khám phá vẻ hoang sơ của đảo, dưới sự chỉ dẫn của lực lượng Kiểm lâm. Lượng khách đến du lịch sinh thái tại Vườn QGCĐ ngày càng tăng. Trong năm 2010, Vườn đã đón tiếp 12.000 lượt khách du lịch, trong đó có gần 7.000 lượt khách nước ngoài, tăng 142% so với năm 2009.  
Hiện  Vườn QGCĐ có tiềm năng rất lớn về  tài nguyên sinh vật rừng và biển, với hàng ngàn loài thực vật, động vật sinh sống, trong đó có những động vật hoang dã quý hiếm, giá trị cao, được bảo vệ đặc biệt trên phạm vi toàn cầu, như: Delphin mõm dài (Stenella longirostris), cá voi xanh (Balaenoptera musculus), Dugong (còn gọi là bò biển)...  Đặc biệt, Vườn QGCĐ có 2 loài rùa biển là vích và đồi mồi với số lượng rất lớn đang sinh sống và làm tổ đẻ trứng tại nhiều khu vực. Chương trình bảo hộ rùa biển được thực hiện từ năm 1995, với sự tài trợ của Tổ chức WWF Chương trình Đông Dương nhằm hạn chế tối đa sự bất lợi của thiên nhiên đối với rùa biển; nghiên cứu các đặc tính của rùa biển và thực hiện các mô hình bảo tàng tham gia vào mạng lưới bảo tồn loài động vật này của ASEAN. Hàng năm, vào mùa sinh sản, hàng ngàn rùa biển đã lên làm tổ đẻ trứng tại VCườn QGCĐ. Từ khi có Chương trình bảo hộ vào năm 1995 đến nay, đã có gần 3.500 rùa mẹ lên làm tổ đẻ trứng đã được đeo thẻ kiểm soát và hơn 500.000 rùa con được thả về biển. Riêng trong năm 2010, có gần 1.500 tổ rùa đẻ, đeo thẻ mới cho gần 200 rùa mẹ và thả về biển gần 100 ngàn rùa con. 
     
Ngoài ra hệ sinh thái san hô phát triển rất mạnh ở vùng bao quanh Vườn QGCĐ gồm 342 loài phong phú,  đa dạng vào loại nhất, nhì ở Việt Nam. Rừng của Côn Đảo thuộc hệ sinh thái rừng nhiệt  đới hải đảo. Các đảo ở đây đều có thảm thực vật rừng với độ che phủ 92% diện tích tự nhiên, bắt đầu từ mép nước lên tới đỉnh núi.Vùng biển Côn Đảo cũng được đưa vào danh sách “Các vùng được ưu tiên bảo vệ cao nhất” trong hệ thống các vùng bảo vệ biển của Ngân hàng Thế giới, đang được đề nghị công nhận là khu di sản của ASEAN.    

Để có thể phát triển bền vững và lâu dài các loại hình du lịch sinh thái tại Côn Đảo, Vườn QGCĐ đã hết sức chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống của các loài thực vật và động vật hoang dã, giữ gìn vẻ hoang sơ của đảo. Vườn đã chủ động phối hợp với các tổ chức trong nước và quốc tế triển khai các chương trình nghiên cứu khoa học, các dự án bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và đẩy mạnh các chương trình giáo dục, tuyên truyền bảo vệ môi trường đối với du khách đến thăm Côn Đảo.


Nằm cách trung tâm TP.HCM 70 km về phía Tây Bắc, Địa đạo Củ Chi là nơi sẽ đưa du khách trở về với những ngày miền Nam hừng hực lửa đấu tranh chống Mỹ. Ðịa đạo quả là kỳ quan độc nhất vô nhị: dài 250km chạy ngoắt ngoéo trong lòng đất

Được làm nên từ dụng cụ thô sơ là lưỡi cuốc và chiếc ki xúc đất. Địa đạo được đào trên một khu vực đất sét pha đá ong nên có độ bền cao, ít bị sụt lở. Hệ thống địa đạo nằm sâu dưới lòng đất, có thể chịu được sức công phá của các loại bom tấn lớn nhất của quân đội Mỹ. Không khí được lấy vào địa đạo thông qua các lỗ thông hơi. Các khu vực khác nhau của địa đạo có thể được cô lập khi cần (bị hơi ngạt, bơm nước).
Ðường hầm sâu dưới đất từ 3 - 8m, chiều cao chỉ đủ cho một người đi lom khom. Căn hầm đầu tiên ở ngay bìa rừng có giếng ngầm cung cấp nguồn nước uống và sinh hoạt cho toàn khu vực địa đạo. Giếng sâu 15m, trong vắt. Hệ thống địa đạo gồm 3 tầng, từ đường "xương sống" toả ra vô số nhánh dài, nhánh ngắn ăn thông nhau, có nhánh trổ ra tận sông Sài Gòn. Tầng một cách mặt đất 3m, chống được đạn pháo và sức nặng của xe tăng, xe bọc thép. Tầng 2 cách mặt đất 5m, có thể chống được bom cỡ nhỏ. Còn tầng cuối cùng cách mặt đất 8-10m hết sức an toàn. Ðường lên xuống giữa các tầng hầm được bố trí bằng các nắp hầm bí mật. Bên trên nguỵ trang kín đáo, nhìn như những ụ mối đùn, dọc đường hầm có lỗ thông hơi. Liên hoàn với địa đạo có các hầm rộng để nghỉ ngơi, có nơi dự trữ vũ khí, lương thực, có giếng nước, có bếp Hoàng Cầm, có hầm chỉ huy, hầm giải phẫu... Còn có cả hầm lớn, mái lợp thoáng mát, nguỵ trang khéo léo để xem phim, văn nghệ.


Vườn quốc gia Cát Tiên là một khu bảo tồn thiên nhiên nằm trên địa bàn ba huyện Tân Phú, Vĩnh Cửu (Đồng Nai), Cát Tiên, Bảo Lộc (Lâm Đồng) và Bù Đăng (Bình Phước), cách Thành phố Hồ Chí Minh 150 km về phía bắc. Đặc trưng của vườn quốc gia này là rừng đất thấp ẩm ướt nhiệt đới.

Vườn quốc gia Cát Tiên được thành lập năm 1992 là vườn quốc gia lớn nhất của Việt Nam và là khu dự trữ sinh quyển thứ 411 của thế giới được UNESCO công nhận. Vườn quốc gia này có diện tích 71.920 ha, nằm trên vùng ranh giới thuộc địa phận ba tỉnh: huyện Cát Tiên của tỉnh Lâm Đồng, huyện Bù Đăng của tỉnh Bình Phước và huyện Tân Phú của tỉnh Đồng Nai. Đặc biệt khu rừng cấm Nam Cát Tiên có diện tích 39.108 ha đang được quản lý khá chặt chẽ.

Vườn quốc gia Cát Tiên nằm trong khu vực chuyển tiếp của khí hậu miền núi và đồng bằng, có hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa. Lượng mưa trung bình hằng năm là 2.185mm, nhiệt độ trung bình là 25,40C. Rừng Cát Tiên có cảnh quan thiên nhiên đa dạng, vừa có đồi núi vừa có bãi cát ven sông, nhiều đầm lầy, ao hồ mênh mông nước, lại vừa có nhiều trảng cỏ rộng lớn. Vào mùa mưa, các sông suối hiền lành trở thành các dòng thác nước đổ ầm ào trắng xóa trên các triền đá. Sông Đồng Nai bao bọc ba mặt bắc, đông và tây với chiều dài đến 90km tạo nên nhiều ghềnh thác hùng vĩ và nhiều bãi cát vàng rộng lớn như các bãi tắm tự nhiên. Tục truyền nơi đây, ngày xưa các nàng tiên thường xuống hạ giới nô đùa, tận hưởng dòng nước mát mẻ trên sông nên mới gọi vùng này là “Cát Tiên”. Giữa dòng sông rộng lớn nổi lên nhiều hòn đảo cây cỏ xanh rì, hoang sơ, thơ mộng.

Ở vườn quốc gia Cát Tiên có trên một nửa số họ thực vật Nam bộ với các họ cây gỗ, đặc trưng là gỗ họ Dầu và gỗ họ Đậu, có đủ loại thực vật từ bậc thấp cho đến bậc cao. Tại vườn, các nhà khoa học đã xác định được 1.610 loài thực vật (trong đó có 310 loài cây dược liệu, hơn 200 loài cây cảnh, 133 loài lan rừng...) quý hiếm như cẩm lai, gõ đỏ, giáng hương, căm xe, gõ mật... có tên trong Sách Đỏ Việt Nam. Về côn trùng có 439 loài bướm, nhiều nhóm côn trùng khác thuộc bộ cánh cứng, bộ cánh vảy cũng có mặt ở Cát Tiên.
Trong các đầm lầy, sông suối ở vườn quốc gia có 133 loài cá, trong đó có 10 loài mới phát hiện ở nước ta. Vườn có 79 loài bò sát, đặc biệt có cá sấu Xiêm, trăn đen, trăn gấm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam. Vườn còn có 351 loài chim, quý hiếm như gà cổ hung, công, cò quắm xanh, già đãy Java, cò lao Ấn Độ, hạc cổ trắng... Về thú rừng có 105 loài, trong đó có 25 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam như bò Gaur, bò Banteng, gấu chó, gấu ngựa, voi châu Á, hổ, beo hoa mai...

Hiện có một nhóm khoảng bảy, tám con tê giác một sừng thuộc phân loài tê giác Java đang sống ở đây. Bảo vệ được những thú vật quý hiếm này là nhiệm vụ khó khăn và lâu dài của vườn quốc gia Cát Tiên. Ngoài ra, dự án phục hồi cá sấu nước ngọt ở Bàu Sấu đang được thử nghiệm.

Bên cạnh hệ động thực vật phong phú có giá trị còn có những cảnh quan thiên nhiên ngoạn mục do địa hình tạo nên như thác Trời được xem như một thác nước kỳ thú nhất ở rừng cấm Nam Cát Tiên. Dòng thác uốn khúc đổ nước từ trên cao xuống các tảng đá tung bọt trắng xóa, tỏa hơi nước mát lạnh cả một vùng. Bàu Sấu nằm ở khu trung tâm, là một vùng đất trũng ngập nước quanh năm, là nơi chứa nước rộng lớn nhất ở Cát Tiên, có vô số cá nước ngọt, kể cả cá sấu sinh sống. Du khách có thể dạo chơi quanh Bàu Sấu trên chiếc thuyền nhỏ chèo tay để tận hưởng vẻ đẹp tuyệt vời của mặt hồ tĩnh lặng, ngắm các loài chim, nhất là chim nước như cò, le le, ngỗng trời, bói cá, gà lôi, sếu, mòng két...

Vườn quốc gia Cát Tiên không chỉ có cảnh quan ngoạn mục mà còn có giá trị về mặt văn hóa - lịch sử. Đây là căn cứ địa cách mạng đã đi vào lịch sử đấu tranh anh dũng của dân tộc. Các nhà khảo cổ cũng tìm thấy ở đây những di vật thuộc nền văn hóa Óc Eo từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ III sau Công Nguyên. Ngôi đền thờ cổ thờ vật linh thuộc văn hóa Phù Nam nằm trên đỉnh một ngọn đồi bên dòng sông Đồng Nai đến nay vẫn còn nhiều bí ẩn.

Hiện nay, vườn quốc gia Cát Tiên là điểm du lịch sinh thái và văn hóa của miền Đông Nam bộ với nhiều loại hình du lịch như du thuyền, đi bộ xuyên rừng, tắm thác, cắm trại, thăm làng đồng bào dân tộc... vừa mạo hiểm vừa thích thú. Ngoài ra vườn quốc gia còn có tác dụng như lá phổi đóng vai trò to lớn trong việc cải thiện môi trường và phòng hộ đầu nguồn cho thủy điện Trị An.    


Nằm trên địa bàn xã Bưng Biền, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, khu du lịch Bình Châu - Hồ Cốc là một tập hợp sinh động về cảnh quan sinh thái với suối Bang hoang sơ, rừng nguyên sinh Bình Châu, bãi biển Hồ Cốc với những dãy cát trắng nép mình bên núi Tầm Bồ.

Khu nghỉ ngơi Bình Châu
Đặc biệt, suối nước khoáng nóng Bình Châu được các nhà khoa học công nhận bởi nguồn nước có giá trị cao trong việc trị liệu, phục hồi sức khỏe. Mạch nước khoáng ẩn dưới khu rừng tràm thơm hương này thuộc loại khoáng si-líc có hàm lượng ni-tơ cao cộng thêm lưu huỳnh, na-tri, clo và các khoáng chất muối chữa trị hiệu quả nhiều bệnh như thần kinh, ngoài da và nhiễm độc.
Năm 1928, bác sĩ người Pháp Sa-lét trong một chuyến khảo sát vùng Đông Nam Bộ đã phát hiện ra nơi này, nhưng do chiến tranh, mãi đến những năm sau hòa bình mới được khai thác làm nhà nghỉ dưỡng và chữa bệnh cho cán bộ. Vào cuối những năm 1999 đầu năm 2000, khi nhu cầu đi du lịch của người dân ngày càng tăng, nơi đây cũng tiến hành nâng cấp và xây dựng một loạt các khu nhà nghỉ mới với các trang thiết bị tiên nghi và hiện đại.
Khu rừng rộng 11 ngàn héc-ta đã được quy hoạch thành 70 điểm phun nước lộ thiên với nhiệt độ chênh lệch từ 37 đến 82 độ C, hình thành nên một hệ thống suối, dòng chảy, các hồ, bể bơi khang trang và đẹp mắt. Hiện nay, với bốn hồ bơi nước khoáng ngoài trời, hàng loạt buồng tắm khoáng trong nhà, bồn tắm bùn dành cho các cá nhân và gia đình, khu vui chơi thể thao với các dòng phun khoáng lạnh, nóng, cụm giếng trời dành cho du khách luộc trứng là những nơi được các bạn trẻ ghé đến nhiều nhất.
Sau khi vịnh Nha Trang được chọn là một trong những vịnh đẹp nhất thế giới, động Phong Nha được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, đến lược khu rừng ngập mặn Vàm Sát - Cần Giờ và suối nước khoáng Bình Châu - Hồ Cốc được công nhận là hai khu du lịch sinh thái bền vững nhất thế giới thật sự là một tín hiệu mừng và là niềm tự hào của không chỉ riêng ngành du lịch Việt Nam.


Toà thánh Cao Đài được xây dựng tại làng Long Hoa, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, cách thị xã Tây Ninh 4km về phía đông nam. Ðạo Cao Ðài ra đời vào năm 1926 ở Tây Ninh. Biểu tượng của đạo Cao Ðài là Thiên Nhãn. Ngoài việc thờ Thiên Nhãn, đạo Cao Ðài còn thờ Phật Thích Ca, Phật Bà Quan Âm, Chúa Giê-su, Khổng Tử, Lão Tử
 Tòa thánh Cao Đài là một công trình kiến trúc nghệ thuật nổi tiếng, được bắt đầu xây dựng vào khoảng năm 1926. toạ lạc trong một khuôn viên rộng khoảng 1km². Nổi bật trong quần thể kiến trúc là đền Thánh, với những đặc trưng tiêu biểu cho kiến trúc đền, chùa của tôn giáo Cao Đài. Công trình thể hiện sự hài hoà giữa mỹ thuật kiến trúc Á Đông và Phương Tây. Với các vòm mái và hoa văn trang trí khéo léo, tinh xảo thể hiện tinh thần tam giáo


Vườn cây ăn trái Cái Mơn thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Ðến đây mùa nào cũng có các loại trái cây để ăn. Làng nghề Cái Mơn hàng năm còn cung ứng cho thị trường nhiều triệu cây giống các loại như sầu riêng, măng cụt, xoài cát, nhãn tiêu, bòn bon và các loại cây có múi. Cái Mơn cũng là nơi có nhiều nghệ nhân, nhân giống triết cành tạo nên các loại cây cảnh và hình bó nai, hình con hươu, nai, rồng, phượng... rất đẹp mắt. Sản phẩm được bán nhiều ở Thủ Ðức, Biên Hòa,... và xuất sang các nước trong khu vực Đông Nam Á.

  1.